Fandom

Avatar Wiki

Văn tự trong thế giới Avatar

99bài viết
trên wikia này
Add New Page
Thảo luận0 Share
25px-Padlock-olive.png
Văn tự trong thế giới Avatar
Characters.png
 Thông tin chung
Loại

Văn học và chữ viết

Ví dụ
  • Dụng cụ để viết
  • Thư pháp
  • Dịch nghĩa Hán văn
  • Văn thư, sách

Văn học và chữ viết là một bộ phận không thể thiếu của xã hội trong thế giới Avatar. Tất cả bốn quốc gia đều sử dụng một hệ thống chữ viết chung vay mượn từ hệ thống chữ Hán cho nhiều mục đích trong cuộc sống hàng ngày.

Chữ viết chủ yếu được sử dụng để ghi chép, giao tiếp, trao đổi tư tưởng, truyền đạt văn hóa, bên cạnh đó, một số người còn sử dụng chữ viết để luyện tập thư pháp, hình thành nên một môn nghệ thuật tạo hình độc đáo, chẳng hạn như sư phụ Piandao.

Lối viết sửa

Dụng cụ để viết sửa

Writing.png

Một bộ dụng cụ hoàn chỉnh để viết.

Văn bản trong thế giới Avatar có được bằng nhiều phương thức. Cách đơn giản nhất là thông qua việc sử dụng bút lông, mực tàu và giấy, tuy nhiên cũng có nhiều văn bản được chạm khắc. Ngôn ngữ viết trong văn bản là tiếng Hán với hàng ngàn ký tự được tạo thành từ nhiều thứ tự kiểu nét khác nhau và thường được viết từ trên xuống, từ phải sang trái mặc dù không phải mọi trường hợp đều luôn như vậy.

Bút lông sửa

Bút lông là một dụng cụ để viết truyền thống trong thế giới Avatar. Thân bút có thể được làm bằng tre, gỗ hoặc những vật liệu quý khác. Đầu bút có thể được làm từ lông của nhiều loài động vật.

Giấy sửa

Giấy được sử dụng làm thành cuộn trục, sách, thư và bản ghi chép. Đồ chặn giấy là hai tấm gỗ có chứa một mặt phẳng, được sử dụng để làm giấy nhẵn để viết.

Chữ viết và các cách hình thành chữ viết sửa

Chữ Hán phồn thể được sử dụng cho mọi văn bản trong thế giới Avatar. Có đến hàng vạn chữ Hán nhưng chỉ có vài nghìn chữ được sử dụng trong giao tiếp hằng ngày. Có nhiều loại chữ khác nhau được sử dụng để hoàn thành một câu và làm cho văn bản có thể đọc được.

Chữ Hán được hình thành theo các cách chính:

  • Chữ tượng hình — "Tượng hình" có nghĩa là căn cứ trên hình tượng của sự vật mà hình thành chữ viết. Các chữ Hán này xuất phát từ kiểu vẽ cách điệu, đơn giản hóa của một đối tượng. Loại chữ Hán này được sử dụng để đại diện cho những đối tượng đó.
    • Ví dụ đơn giản như  [nhật] cho "mặt trời",  [nguyệt] cho "mặt trăng",  [mộc] cho "cây cối". Các chữ này rất dễ nhận biết và đơn giản.
  • Chữ chỉ sự hoặc còn gọi là chữ biểu ý — "Chỉ sự" có nghĩa là chỉ định một sự vật, sự việc và biểu diễn bằng chữ, "biểu ý" có nghĩa là dùng chữ để biểu diễn ý nghĩa của sự vật, sự việc đó. Mặc dù không phải là dẫn xuất trực tiếp của hình ảnh giống như chữ tượng hình, nhưng chữ chỉ sự cũng vẫn có liên quan đến chữ tượng hình, chúng là một đại diện trừu tượng cách điệu của một ý nghĩ, sự việc.
    • Ví dụ, để tạo nên chữ  [bản, bổn], diễn đạt nghĩa "gốc rễ của cây", thì người ta dùng chữ  [mộc] và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa "ở đây là gốc rễ" và chữ được hình thành. Chữ  [thượng] "lên",  [hạ] "xuống",  [thiên] "trời" là những chữ chỉ sự được hình thành theo cách tương tự.
  • Chữ hội ý — "Hội ý" có nghĩa là ghép ý nghĩa với nhau. Chúng được tạo ra thông qua việc kết hợp các yếu tố của chữ tượng hình và chữ chỉ sự để tạo thành một đại diện trừu tượng của một ý tưởng hoặc một đối tượng nào đó.
    • Khi ghép đôi chữ tượng hình  [mộc] "cây" tạo thành chữ  [lâm] "rừng", tức nhiều cây thì tạo thành rừng. Một ví dụ khác như khi ghép chữ  [điểu] "chim" bên cạnh chữ  [khẩu] "miệng, mồm", hình thành nên chữ  [minh] có nghĩa là "kêu, hót, gáy". Những chữ được tạo thành theo phương pháp ghép như vậy gọi là chữ hội ý.
Aang chibi writing.png

Aang viết thư cho Katara trong Avatar Chibi.

  • Chữ hình thanh — Tên gọi rất phức tạp, có nghĩa là lấy sự vật, sự việc làm tên, mượn thanh để mà hợp thành và thực tế đa số các chữ Hán đều hình thành bằng phương pháp hình thanh. Chữ thuộc thể loại này chiếm khoảng 80% trong toàn bộ chữ Hán. Để khắc họa tượng hình và biểu thị ý nghĩa tuyệt đối của mọi thứ vào một chữ là điều không thể có, do đó thể loại chữ này rất phổ biến. Các chữ hình thành thường được tạo thành từ hai phần là phần hình và phần thanh. Phần hình là phần biểu diễn ý nghĩa chính mà đã được dùng từ lâu đời và phần thanh là phần biểu diễn cách phát âm của chữ đó, thông thường giống hoặc gần giống với chữ đóng vài trò phần thanh.
    • Ví dụ chữ  [thanh] cấu tạo gồm hai phần. Ba nét bên trái (tức bộ thủy) đóng vai trò là phần hình, biểu diễn nghĩa liên quan đến nước, chất lỏng, dòng nước chảy, dòng sông, khi ghép cùng với chữ  [thanh] "màu xanh" đóng vai trò là phần thanh, tạo thành chữ  [thanh] nghĩa là "trong suốt", "trong sạch", phát âm giống với chữ "màu xanh".
    • Ví dụ chữ  [đồng], phần hình là bộ  [kim] biểu diễn nghĩa liên quan đến kim loại, tiền, vàng, phần thanh là chữ  [đồng] có nghĩa là "cùng chung, cùng loại, như nhau, hợp nhất", ghép lại với nhau tạo thành chữ  [đồng] có nghĩa là "đồng kim loại, một nguyên tố hóa học kí hiệu là Cu", phát âm giống với chữ "cùng nhau".

Đó là bốn phương pháp chính để hình thành chữ Hán, đã đủ để tóm quát các loại chữ Hán thông dụng hiện có, ngoài ra còn có hai tiểu thể loại dựa trên phương thức sử dụng:

  • Chữ chuyển chú — Là mượn từ những chữ có sẵn, đem thay hình đổi dạng đôi chút, tạo ra chữ khác có ý nghĩa tương cận, gần gũi với chữ ban đầu.
    • Chữ  [nhạc] "âm nhạc", âm nhạc khiến cho con người ta cảm thấy vui sướng, phấn khởi nên chữ có một âm khác là lạc, nghĩa là "vui vẻ". Từ chữ  [nhạc] "âm nhạc" đặt ra chữ  [lạc] có ý nghĩa "vui vẻ" gọi là phương pháp chuyển chú (không thay đổi nét).
    • Tương tự, từ chữ  [lạc] "vui vẻ" ghép thêm bộ thảo (có nghĩa là cây cỏ) tạo thành chữ  [dược] nghĩa là "thuốc", tức dùng cây cỏ thảo mộc để chữa lành bệnh (tức thuốc), khiến cho con người an vui, hoan hỷ. Trường hợp này là chuyển chú có thay đổi nét, ở đây là thêm bộ thảo.
  • Chữ giả tá — Có nghĩa là mượn sai, vốn ban đầu không có chữ để mà biểu thị, nên đành mượn chữ có cùng thanh, cùng cách phát âm để mà bày tỏ ý sự, biến thành âm và nghĩa xa lạ, vốn không hề có quan hệ do suy diễn hay gần gũi, ngày nay ta có thể hiểu là từ đồng âm khác nghĩa (đọc giống nhau nhưng có nghĩa khác). Những ý nghĩa không có chữ viết mà mượn chữ khác cùng thanh âm để biểu thị được gọi là chữ giả tá.
    • Ví dụ chữ  [ô] "quạ đen", được mượn làm từ mang nghĩa cảm thán trong 烏乎 [ô hô] "Than ôi!", "Hỡi ôi!". Chữ  [ngũ] "số năm" và  [hổ] "con hổ", khi đặt chung với nhau 五虎 [ngũ hổ] có nghĩa là "năm con hổ", nhưng nếu được mượn với mục đích dùng làm câu cảm thán, than ôi, "ù hú", khác với nghĩa "năm con hổ" thì đây là trường hợp giả tá.
    • Ví dụ khác như, ban đầu chữ  [đạo] có nghĩa là đường đi, sau được mượn để giả tá thành một nghĩa khác, như trong 道理 [đạo lý], 道德 [đạo đức].

Toàn bộ những thể loại chữ nói trên được gọi là "lục thư", tức 6 cách sáng tạo ra chữ Hán.

Piandao teaches Sokka.png

Piandao dạy Sokka thư pháp.

Thư pháp sửa

Thư pháp là một hình thức viết chữ hay đúng hơn, họa và vẽ chữ viết theo một cách đầy tính nghệ thuật để làm nổi bật vẻ đẹp và hình dạng của nó. Giấy, mực tàu, bút lông và đài nghiên là những dụng cụ cần thiết trong thư pháp. Đồ chặn giấy cũng được sử dụng để giữ cho giấy thẳng và phẳng trên bàn, tránh việc tay của nghệ nhân chạm vào giấy sạch. Chỉ có những loại có chất lượng cao nhất mới được sử dụng. Piandao đã dạy cho Sokka những điều căn bản nhất về thư pháp.

Dịch nghĩa Hán văn sửa

Với mục đích tìm kiếm bản dịch chuyên sâu về danh tính, tên riêng được sử dụng trong loạt phim, xem tại đây

Avatar: The Last Airbender sửa

Đoạn mở đầu sửa

  • Ở phía trên và dưới cùng của bản đồ thế giới Avatar có hai dòng tách biệt, mỗi dòng gồm bốn chữ Hán trong hình thức cổ điển. Chúng tạo thành một cặp đối có thể được dịch là:
群雄四分 [Quần hùng tứ phân] - Quyền lực được chia làm bốn phần
天下一匡 [Thiên hạ nhất khuông] - Trời đất này được dẫn dắt bởi một
Opening Avatar World Map.png

Bản đồ thế giới Avatar.

  • Bốn chữ được ghi trên các góc ám chỉ đến bốn nguyên tố (quốc gia) ​​và có thể được dịch:
水善 [Thủy thiện] - Nước hiền hòa
土強 [Thổ cường] - Đất cứng rắn
火烈 [Hỏa liệt] - Lửa mãnh liệt
气和 [Khí hòa] - Khí yên bình
  • Bên dưới tiêu đề Avatar, dòng chữ Hán có thể được dịch là:
降卋神通 [Giáng thế thần thông] - Vị thần cầu nối đã ngự xuống thế giới (tức Thế thần). Chữ  [thế] ngày nay không còn được dùng trong văn bản tiếng Trung hiện đại và được thay bằng chữ  [thế] với nghĩa tương tự.

Quyển Một: Thủy sửa

"The Warriors of Kyoshi" sửa
Sokka in KW uniform.png

Bên phải tay áo đồng phục Chiến binh Kyoshi hiển thị chữ kinh.

Bài chi tiết: The Warriors of Kyoshi
  • Chiếc quạt mà bức tượng Kyoshi cầm trước y phục của bà được ghi bằng chữ  [kinh] ("kyō" trong tiếng Nhật), có nghĩa là "kinh đô". Chữ này cũng xuất hiện trên tay áo đồng phục Chiến binh Kyoshi. Chiếc quạt mà Kyoshi cầm trên cánh tay dang ra mang chữ  [], phát âm là "shi", có nghĩa là võ sĩ hoặc chiến binh hay là samurai trong tiếng Nhật. Hai chữ này ghép lại thành tên của Kyoshi.
"Winter Solstice, Phần 1: The Spirit World" sửa
Bài chi tiết: Winter Solstice, Phần 1: The Spirit World
  • Các vòng trên điện thờ của Roku chứa các ký tự biểu diễn cho các tiết trời: 春分 [Xuân phân] "tiết Xuân phân"; 夏至 [Hạ chí] "tiết Hạ chí"; 秋分 [Thu phân] "tiết Thu phân"; và 冬至 [Đông chí] "tiết Đông chí". Tất cả chúng nằm trong lịch truyền thống Á Đông.
"The Waterbending Scroll" sửa
Waterbending scroll.png

Thủy thuật trục thư.

Bài chi tiết: The Waterbending Scroll
  • Phần bên trái của cuộn trục ghi 截水神功練習第一式 [Tiệt thủy thần công luyện tập đệ nhất thức], có thể được dịch là "Những hình thức căn bản nhất của thực hành thủy thuật". Phần bên phải ghi 水單鞭 [thủy đan tiên], có thể được dịch là "roi nước đơn". Từ tiếng Anh "waterbending" không có chữ tương ứng trong tiếng Trung, nên các nhà sáng lập chương trình dùng cụm 截水神功 [Tiệt thủy thần công] để mô tả nghĩa đen của nó và được dịch là "năng lực thần thánh cắt đôi nước".
"The Blue Spirit" sửa
Wanted poster of Aang.png

Lệnh truy nã Aang, được thấy trong "The Deserter".

Bài chi tiết: The Blue Spirit
  • Lệnh truy nã Aang được đọc như sau:

緝拿 降卋神通
該逃犯身懷截氣神功
能制起旋風飛遁如風
捕者慎之慎之
烈火君令

Tập nã - Giáng thế thần thông
Cai đào phạm thân hoài tiệt khí thần công
Năng chế khởi tuyền phong phi độn như phong
Bộ giả thận chi thận chi
Liệt Hỏa quân lệnh

"Truy nã - Thế thần. Kẻ đào tẩu này biết khí thuật, có thể tạo ra gió lốc, và bay chạy như gió. Những ai truy bắt, phải hết sức thận trọng! Hỏa quân ban lệnh."
"The Fortuneteller" sửa
Bài chi tiết: The Fortuneteller
  • Bức thư pháp trong phòng khách của cô Wu được viết trong dạng chữ thảo (thảo thư), một hình thức bút pháp phóng khoáng, nhanh lẹ, tự do vốn nổi tiếng là khó đọc.
  • Vận rủi tạo nên khi Sokka đá văng hòn đá có chữ  [phúc] (có nghĩa là "những điều tốt lành") nằm trên nó.
"Bato of the Water Tribe" sửa
Bài chi tiết: Bato of the Water Tribe
Bài chi tiết: Bản đồ điểm hẹn
  • Bản đồ đến điểm hẹn được bao phủ với những ký tự chỉ ra địa điểm và ghi chú nhưng hầu hết đều không rõ ràng. Ở góc trên bên trái là những chữ 海月護佑 [Hải nguyệt hộ hựu] có thể được dịch thô là "Sự phù hộ và bảo vệ của biển cả và mặt trăng". Các chữ nhỏ hơn nằm ở trung tâm vịnh là 首長 [thủ trưởng] và 戰士 [chiến sĩ], có nghĩa là "người lãnh đạo" và "các chiến binh". Ở góc bên trái phía dưới có một ngọn núi được đánh dấu với chữ 東山 [Đông sơn], có nghĩa là "ngọn núi phía đông".
"The Deserter" sửa
Fire Days Festival poster.png

Cáo thị lễ hội Ngày Hỏa.

Bài chi tiết: The Deserter
  • Cáo thị lễ hội Ngày Hỏa

庆祝烈火節
傳統烈火國美味食品
烈火國文化展雜技魔術
運火師木偶戲烟火
使你如置身於烈火國

Khánh chúc Liệt Hỏa tiết
Truyền thống Liệt Hỏa Quốc mỹ vị thực phẩm
Liệt Hỏa Quốc văn hóa triển tạp kỹ ma thuật
Vận hỏa sư mộc ngẫu hí yên hỏa
Sử nhĩ như trí thân ư Liệt Hỏa Quốc

"Chào mừng lễ hội Ngày Hỏa. Có những món ngon truyền thống Hỏa Quốc, văn hóa triễn lãm, nghệ sĩ tung hứng, nhà ảo thuật, các hỏa sư, chương trình múa rối, và còn rất nhiều thứ khác nữa làm bạn cảm thấy như đã trở về nhà ở Hỏa Quốc!"[1]
Jeong Jeong wanted poster.png

Cáo thị truy nã Jeong Jeong.

  • Cáo thị truy nã Joeng Joeng

緝拿 琤琤
前烈火國艦長
年六十.白髮.
貌似柔順實長制火術
捕者慎之

Tập nã - Tranh Tranh
Tiền Liệt Hỏa Quốc hạm trưởng
Niên lục thập. Bạch phát.
Mạo tự nhu thuận thực trưởng chế hỏa thuật
Bộ giả thận chi

"Truy nã - Joeng Joeng. Đã từng là hạm trưởng của Hỏa Quốc. Sáu mươi tuổi và tóc bạc trắng. Bề ngoài trông yếu ớt nhưng thực ra là một bậc thầy hỏa thuật. Những ai truy bắt lưu ý!"[1]
Wanted poster of Chey.png

Cáo thị truy nã Chey.

  • Cáo thị truy nã Chey

緝拿 済.
前烈火軍隊長懦夫
逃兵叛賊.

年三十善火功爆破.
精神不稳.
捕者慎之

Tập nã - Tề.
Tiền Liệt Hỏa Quốc quân đội trưởng nọa phu
đào binh bạn tặc.
Niên tam thập thiện hỏa công bạo phá.
Tinh thần bất ổn.
Bộ giả thận chi

"Truy nã - Chey. Từng là đội trưởng trong quân đội Hỏa Quốc, là một tên hèn, kẻ đào ngũ và phản quốc. Hắn ba mươi tuổi, rất giỏi trong việc gây nổ. Tinh thần không ổn định. Những ai truy bắt lưu ý!"[1]
Wanted poster of Blue Spirit.png

Cáo thị truy nã Lam Thần.

  • Cáo thị truy nã Lam Thần

  緝拿 蓝神.
  劫持降卋神通
  頭戴蓝色土國面具
  身份不明外傳為鬼之
  說不足信
  如探得行踪須全力以赴

Tập nã - Lam Thần.
Kiếp trì Giáng thế thần thông
Đầu đái lam sắc Thổ Quốc diện cụ
Thân phận bất minh ngoại truyền vi quỷ chi
thuyết bất túc tín
Như thám đắc hành tung tu toàn lực dĩ phó
"Truy nã - Lam Thần. Bắt cóc tội phạm Thế thần. Hắn đeo một chiếc mặc nạ kịch của Thổ Quốc. Danh tính thực sự của hắn chưa sáng tỏ ngoài tin đồn hắn là ma quỷ. Nếu phát hiện ra hành tung của hắn, đừng tiếc sức trong việc bắt giữ hắn."[1]
  • Con dấu của Hỏa quân được tìm thấy trên tất cả các cáo trạng truy nã đọc là 烈火國王敖載印寶 [Liệt Hỏa Quốc vương Ngao Tái ấn bảo], nghĩa là "Con ấn chính thức của Hỏa quân Ozai".
"The Siege of the North, Phần 2" sửa
Bài chi tiết: The Siege of the North, Phần 2
  • Cuộn giấy mà Zhao tìm thấy trong thư viện Wan Shi Tong được viết theo kiểu thư pháp Trung Quốc cổ, đọc là 月神海神 [Nguyệt thần hải thần] và 北方水族 [Bắc Phương Thủy Tộc], nghĩa là "thần mặt trăng - thần biển cả" và "Thủy Tộc phương Bắc".

Quyển Hai: Thổ sửa

"The Avatar State" sửa
Bài chi tiết: The Avatar State
  • Lệnh truy nã ZukoIroh được đọc như sau:
Zuko and Iroh's wanted poster.png

Lệnh truy nã ZukoIroh.

承烈火君命緝捕艾洛祖寇二叛賊.
艾洛将軍曾為平西巨龍.
祖寇王子曾為火帝儲君.
二賊違反國令.
拒絕征剿水族蛮子及捉拿降卋神通.
格殺勿論.
Thừa Liệt Hỏa quân mệnh tập bộ Ngải Lạc Tổ Khấu nhị bạn tặc.
Ngải Lạc tướng quân tằng vi Bình Tây Cự Long.
Tổ Khấu vương tử tằng vi Hỏa đế trữ quân.
Nhị tặc vi phản quốc lệnh.
Cự tuyệt chinh tiễu Thủy Tộc mang tử cập tróc nã Giáng thế thần thông.
Cách sát vật luận.
"Hỏa quân ban lệnh bắt giữ Iroh và Zuko, hai kẻ phản loạn. Đại tướng quân Iroh từng được mệnh xưng là Con Rồng của Trời Tây. Hoàng tử Zuko từng là Thái tử của Hỏa quân. Hai kẻ phản bội này đã vi phạm lệnh vua. Chúng từ chối tàn sát lũ Thủy Tộc mọi rợ cũng như việc truy bắt Thế thần. Cho phép giết không cần hỏi ngay tại chỗ khi bắt gặp."
  • Dòng chữ trên con dao găm của Zuko đọc là 非戰不屈 [phi chiến bất khuất], nghĩa là "Đừng bao giờ bỏ cuộc nếu không đấu tranh".
"The Cave of Two Lovers" sửa
Bài chi tiết: The Cave of Two Lovers
Cave of Two Lovers writing.png

Động Uyên Ương.

  • Bảng hiệu bên ngoài lối vào động, trong kiểu văn bản Hán cổ, đọc là 情人洞 [Tình nhân động], nghĩa là "Hang của những người yêu nhau".
  • Tấm biển hiệu bên ngoài cửa phòng khám của Song đọc là  [y], nghĩa là "thầy thuốc" hoặc "nghề y".
  • Bức bích họa đầu tiên kể về câu chuyện của đôi uyên ương, trong kiểu văn bản Hán cổ, đọc là 男女相隔二地 會于此峰 [Nam nữ tương cách nhị địa hội vu thử phong] được dịch gần đúng là "Người nam và người nữ bị chia cắt bởi hai vùng; họ gặp nhau trên đỉnh núi".
  • Chữ Hán xuất hiện khi Katara đọc về cuộc chiến tranh giữa hai làng của đôi uyên ương đọc là  [chiến], nghĩa là "chiến tranh".
  • Bức bích họa cuối cùng kể về câu chuyện của đôi uyên ương, trong kiểu văn bản Hán cổ, đọc là 奧瑪舒城 永志恋情 [Áo Mã Thư thành vĩnh chí luyến tình], được dịch với nghĩa gần đúng là "Thành Omashu, tưởng nhớ mãi mãi tình yêu của họ".
  • Dòng chữ trên bảng nổi giữa hai bức tượng đôi uyên ương hình như đọc là 愛在黑暗…光明 [Ái tại hắc ám … quang minh] có ý nghĩa tương đồng với câu "Tình yêu sáng nhất trong bóng tối".
"Return to Omashu" sửa
Bài chi tiết: Return to Omashu
  • Bức thư chuộc con của thống sứ được đọc như sau:
Ukano's letter.png

Bức thư chuộc con của thống sứ Tân Ozai.

懦弱之拐人
我愿以你卑賤的布米王換取我兒子湯湯安全
正午會於城巔石像下交換
Nhu nhược chi quải nhân
Ngã nguyện dĩ nễ ti tiện đích Bố Mễ vương hoán thủ ngã nhi tử Thang Thang an toàn
Chính ngọ hội ư thành điên thạch tượng hạ giao hoán
"Những tên bắt cóc hèn hạ, ta đồng ý trao đổi tên vua thấp hèn Bumi của các ngươi đổi lấy sự an toàn của con trai ta Tom Tom. Đúng giờ ngọ ngày mai, gặp nhau tại bức tượng lớn trong thành để thực hiện cuộc trao đổi."
"The Swamp" sửa
Bài chi tiết: The Swamp
  • Biển hiệu xe đẩy mà Zuko và Iroh băng ngang qua đọc là 快樂浪人歌劇團 [Khoái lạc lãng nhân ca kịch đoàn], nghĩa là "Đoàn hát kịch của những lữ khách hạnh phúc".
"Avatar Day" sửa
Bài chi tiết: Avatar Day
  • Chiếc lồng đèn trong cảnh diễu hành có chữ  [tửu] được vẽ lên nó, nghĩa là "rượu" và lúc đó cho thấy đi ngang qua một quán rượu.
The Birth of Kyoshi.png

"Ngày thành lập Kyoshi".

  • Dòng chữ Hán cổ được khắc ở phẩn dưới của bức tượng đọc là 秦帝 [Tần đế], nghĩa là "Hoàng đế Chin". Nhân vật này được đặt tên theo Tần Thủy Hoàng - hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa và tên được chuyển sang văn Anh có nguồn gốc phát âm tiếng Hán.
  • Dòng chữ trên bức họa "Ngày thành lập Kyoshi" đọc là:

降卋神通虛子今日拓創虛子島
愿吾民文化永絕於卋界暴政
Giáng thế thần thông Hư Tử kim nhật tháp sang Hư Tử đảo
Nguyện ngô dân văn hóa vĩnh tuyệt ư thế giới bạo chánh

"Vào ngày này, Thế thần Kyoshi đã chia tách và tạo ra đảo Kyoshi. Nguyện cho nền văn hóa của người dân sẽ vĩnh viễn tách rời khỏi những hành động bạo ngược của thế giới".[1]
"The Blind Bandit"sửa
Bài chi tiết: The Blind Bandit
余師傅運土術武館全國最佳
包教會
持此傳單第一課免費僅須購買
髙級制服

Dư sư phụ vận thổ thuật võ quán toàn quốc tối giai
Bao giáo hội
Trì thử truyền đơn đệ nhất khóa miễn phí cận tu cấu mãi
cao cấp chế phục

"Hội quán Thổ thuật của sư phụ Yu là trường học tốt nhất đất nước. Đảm bảo dạy tất cả mọi thứ sẽ được học. Quảng cáo đặc biệt - miễn phí buổi học đầu tiên. Bạn chỉ phải trả tiền cho bộ đồng phục chất lượng cao."
Ransom letter.png

Lá thư đòi tiền chuộc Toph.

  • Tấm biển hiệu ngoài cổng trường của sư phụ Yu đọc là 余師傅著名運土術武館 [Dư sư phụ trứ danh vận thổ thuật võ quán], có nghĩa là "Hội quán Thổ thuật nổi tiếng của sư phụ Yu".
  • Bức thư đòi tiền chuộc Toph được đọc như sau:

欲見你女兒有生一…
五百金條至競技場
大塊石辛富

  Dục kiến nhĩ nữ nhi hữu sanh nhất…
  Ngũ bách kim điều chí cạnh kỹ trường
  Đại Khối Thạch - Tân Phú

"Nếu ngài muốn nhìn thấy con gái mình còn sống, (mang theo) năm trăm thanh vàng đến đấu trường. (Ký tên) Đá Cuội và Xin Fu."
"The Library" sửa
Bài chi tiết: The Library
  • Dòng chữ trên bản đồ của Giáo sư Zei được đọc là 萬知堂神祕图書館 [Vạn Tri Đường thần bí đồ thư quán], nghĩa là "thư viện thần bí của Wan Shi Tong".
  • Cuốn sách mà Sokka rút ra trên kệ sách trong khi Aang nhìn vào bức họa rùa sư tử có trên bìa dòng chữ 子白 [tử bạch] có nghĩa là "đứa trẻ" hoặc "người thầy" và "màu trắng" tương ứng; tuy nhiên chúng chỉ là những chữ Hán ngẫu nhiên được chọn để hiển thị.
  • Tờ giấy da ngày đen tối nhất Hỏa Quốc đọc là 培治龍年七月九日烈火國最黑暗的一天 [Bồi Trị long niên thất nguyệt cửu nhật Liệt Hỏa Quốc tối hắc ám đích nhất thiên] nghĩa là "Ngày thứ chín của tháng thứ bảy, đời Bồi Trị năm Thìn là ngày đen tối nhất trong lịch sử Hỏa Quốc".
  • Những chữ Hán trên các vòng lịch tròn thành lập nên tên của các thời đại được sử dụng để tính toán thời gian sự kiện trong thế giới Avatar:[1]
Burned parchment.png

Tờ giấy da cùng bàn lịch đá.

01. 氜武 [Dương Vũ] - Quân sự cao cường
02. 淳泰 [Thuần Thái] - Trung hậu cao quý
03. 坧元 [Chỉ Nguyên] - Nền tảng nguồn gốc
04. 烱裕 [Quýnh Dụ] - Sáng sủa phong phú
05. 氜隆 [Dương Long] - Đại thịnh vượng
06. 溢文 [Dật Văn] - Tràn ngập văn hóa
07. 培治 [Bồi Trị] - Trau dồi quy tắc
08. 焜德 [Hỗn Đức] - Đức hạnh soi sáng
09. 氲貞 [Uân Trinh] - Hưng thịnh lòng trung thành
10. 渪明 [Nhu Minh] - Đắm mình trong sáng suốt
11. 堯平 [Nghiêu Bình] - Thời đại Nghiêu đế thanh bình
12. 煬崇 [Dương Sùng] - Danh dự chói sáng
13. 氛安 [Phân An] - Yên bình mờ nhạt
14. 漳順 [Chương Thuận] - Mịn như sông Chương
15. 垣正 [Viên Chánh] - Thành trì công lý
16. 焯光 [Chước Quang] - Ánh sáng rực rỡ

Bộ thủ là phần cơ bản của chữ Hán và có đến 214 bộ thủ, chúng là những yếu tố chỉ ý trong Hán văn được sử dụng kết hợp với ngữ âm để hình thành hàng nghìn ký tự khác nhau. Chữ Hán đầu tiên trong những cái tên gồm hai chữ phía trên có một bộ thủ đại diện cho một trong bốn nguyên tố và xoay quanh theo thứ tự khí, sau đến thủy, rồi đến thổ, và đến hỏa.

  • - bộ "khí" dùng trong các ký tự liên quan đến không khí, hơi.
  • - bộ "thủy" (ba giọt nước) dùng trong các ký tự liên quan đến chất lỏng.
  • - bộ "thổ" dùng trong các ký tự liên quan đến đất, khoáng vật, bụi,...
  • - bộ "hỏa" dùng trong các ký tự liên quan đến lửa, nhiệt,...
Lưu ý: Những định nghĩa trên được dựa trên các ký tự, nhiều sự kết hợp rất khó hiểu. Một số ký tự không còn được sử dụng trong tiếng Trung hiện đại.
  • Ngày Mặt Trời Đen được thiết lập trên bàn lịch đá đọc là 氜武猴年八月一日 [Dương Vũ hầu niên bát nguyệt nhất nhật] nghĩa là "Ngày mùng một tháng Tám, đời Phất Vũ năm Thân". Ngày này cũng có thể xem là ngày một tháng Tám dương lịch. Tuy nhiên, nếu thực sự thế giới Avatar sử dụng theo âm lịch Trung Hoa, ngày này sẽ rơi vào từ khoảng từ nửa sau đến cuối tháng Tám và đầu tháng Chín dương lịch.
"The Serpent" sửa
Bài chi tiết: The Serpent
Serpent's Pass entrance.png

Lối vào đèo Rắn Biển.

  • Hộ chiếu của Toph đọc là 土國頭等護照 北方拓芙 [Thổ Quốc đầu đẳng hộ chiếu Bắc Phương Thác Phù], nghĩa là "Hộ chiếu hạng nhất Thổ Quốc - Toph Beifong".
  • Vé qua phà được đọc là 滿月湾渡輪票 [Mãn Nguyệt loan độ luân phiếu], nghĩa là "Vé phà vịnh Trăng Rằm".
  • Tấm biển trên cánh cổng vào đèo Rắn Biển đọc là 盤蛇關 [Bàn Xà quan] nghĩa là "cửa ải rắn quanh co". Chữ khắc trên cột đọc là 絕望 [tuyệt vọng], nghĩa là "không còn hy vọng".
  • Hộ chiếu giả của Iroh đọc là 土國護照 洪慕士 [Thổ Quốc hộ chiếu Hồng Mộ Sĩ], nghĩa là "Hộ chiếu Thổ Quốc - Hong Mushi".[1]
  • Hộ chiếu giả của Zuko đọc là 土國護照 洪禮 [Thổ Quốc hộ chiếu Hồng Lễ], nghĩa là "Hộ chiếu Thổ Quốc - Hong Lee".
  • Con dấu của tiếp viên hộ chiếu đóng lên trán của Aang đọc là 不准 [bất chuẩn], nghĩa là "từ chối".
"The Drill" sửa
Bài chi tiết: The Drill
  • Biểu ngữ trong sảnh hải quan Ba Sing Se đọc là 歡迎光臨永固城 [Hoan nghênh quang lâm Vĩnh Cố Thành], nghĩa là "Chào mừng đến Ba Sing Se".
  • Mảng bám trên các đường ống dẫn bùn đọc là 泥漿管道 [nê tương quản đạo], có nghĩa là "đường dẫn bùn".
"City of Walls and Secrets" sửa
Bài chi tiết: City of Walls and Secrets
  • Thiệp mời dự yến tiệc của Thổ vương có chữ 南大門 [Nam đại môn] được viết trên đó, nghĩa là "cổng thành phía Nam".
  • Tên của tiệm trà đọc là 包氏茶館 [Bao thị trà quán], nghĩa là "tiệm trà họ Pao".
"Tales of Ba Sing Se" sửa
Bài chi tiết: Tales of Ba Sing Se
  • Dòng chữ hiệu xuất hiện trước mỗi câu chuyện, theo thứ tự, đọc là 卡塔拉與托夫的故事 [Ca Tháp Lạp dữ Thác Phu đích cố sự] - "chuyện kể về Katara và Toph", 安昂的故事 [An Ngang đích cố sự] - "chuyện kể về Aang", 索卡的故事 [Sách Ca đích cố sự] - "chuyện kể về Sokka", 艾洛的故事 [Ngải Lạc đích cố sự] - "chuyện kể về Iroh", 蘇科的故事 [Tô Khoa đích cố sự] - "chuyện kể về Zuko", và 模模的故事 [Mô Mô đích cố sự] - "chuyện kể về Momo". Trên thẻ tiêu đề ghi là "chuyện kể về Toph và Katara" nhưng bản dịch tiếng Trung lại để tên của Katara đứng trước Toph. Tên của Toph cũng bị viết khác đi trên thẻ tiêu đề so với hộ chiếu của cô trong tập "The Serpent" và bức thư của mẫu thân gửi cho cô trong tập "The Earth King". Tên của Zuko cũng trở nên khác biệt, trong tập "The Desert", tên của Zuko được kê khai trên cáo thị truy nã của Hỏa Quốc trong tiếng Hán là 祖寇 [Tổ Khấu]" trong khi ở đây tên của anh được viết lại thành 蘇科 [Tô Khoa]. Chữ  [] cũng được dùng trong tên của Hỏa quân Sozin.
Lu Ten.png

Di ảnh của Lu Ten.

  • Biển hiệu của tiệm spa Katara và Toph đến đọc là 貴婦美容院 [Quý phụ mỹ dung viện], dịch là "Viện làm đẹp của các phụ nữ quý tộc".
  • Dòng chữ Hán trên di ảnh Lu Ten được đọc theo kiểu truyền thống, từ phải sang, từ trên xuống: 艾洛将軍 得勝再見 忠心的兒子路騰 [Ngải Lạc tướng quân, đắc thắng tái kiến, trung tâm đích nhi tử Lộ Đằng], có thể được dịch là "Tướng quân Iroh, nhi tử sẽ gặp lại người khi chúng ta giành được chiến thắng. Con trai trung thành của người, Lu Ten".
  • Biển hiệu trước vườn thú mà Aang đến, đọc là 快樂動物園 [Khoái lạc động vật viên], nghĩa là "Vườn thú Vui Vẻ".
  • Biển hiệu bên ngoài hội quán thơ Haiku trong "Chuyện kể về Sokka" đọc là 五七五會社 [Ngũ Thất Ngũ hội xã], nghĩa là Hội quán Năm-Bảy-Năm.
"Lake Laogai" sửa
Bài chi tiết: Lake Laogai
Appa's poster.png

Cáo thị tìm kiếm Appa.

  • Cáo thị tìm kiếm Appa đọc như sau:

尋飛天野牛
名阿柏有六足
重十噸

如有消息請聯絡
降卋神通安昂
上環九十六區
第二百一十七棟

Tầm phi thiên dã ngưu
Danh A Bá hữu lục túc
trọng thập đốn
Như hữu tiêu tức thỉnh liên lạc
Giáng thế thần thông An Ngang
Thượng Hoàn cửu thập lục khu
đệ nhị bách nhất thập thất đống

"Tìm kiếm một chú bò rừng trời. Tên của cậu ấy là Appa, cậu ấy có sáu chân và nặng mười tấn. Nếu bạn có bất kì thông tin gì, xin liên lạc Thế thần Aang ở vùng Thượng Hoàn, quận 96, nhà số 217."
"The Guru" sửa
Bài chi tiết: The Guru
  • Biển hiệu trên cửa của quán trà Long Nhài đọc là 茉莉龍 [Mạt Lị Long], tức tên tiếng Trung của tiệm.
  • Những chữ bên trong tiệm trà đọc là 寧三天不食莫一日無茶 [Ninh tam thiên bất thực mạc nhất nhật vô trà] thể hiện câu tục ngữ truyền thống Trung Quốc: "Thà ba ngày không ăn uống còn hơn là một ngày mà thiếu trà".

Quyển Ba: Hỏa sửa

"The Avatar and the Fire Lord" sửa
Bài chi tiết: The Avatar and the Fire Lord
  • Ký tự trên cuộn giấy mà Zuko nhận được đọc là 你須知道曾祖死後它會顯示你的命運 [Nhĩ tu tri đạo tăng tổ tử hậu tha hội hiển kì nhĩ đích mệnh vận], nghĩa gần đúng là "Con cần biết chuyện gì đã xảy sau cái chết của ông cố con, nó sẽ tiết lộ vận mệnh của chính con". Dòng tin mật đọc là 烈火國諸賢秘史藏於龍骨墓窟中 [Liệt Hỏa Quốc chư hiền bí sử tàng ư Long Cốt mộ quật trung] có nghĩa gần đúng là "Lịch sử bí mật của các hiền triết Hỏa Quốc được giấu trong Cổ mộ Long Cốt".
  • Ký tự trên chiếc hộp đầu tiên chứa đựng lịch sử của Sozin đọc là 烈火君蘇進遺書完稿 [Liệt Hỏa quân Tô Tiến di thư hoàn cảo], nghĩa là "Di chúc cuối cùng của Hỏa quân Sozin". Chiếc hộp thứ hai đọc là 烈火君蘇進遺書稿之 [Liệt Hỏa quân Tô Tiến di thư cảo chi] nghĩa là "Bản nháp bức thư di chúc của Hỏa quân Sozin".
  • Những ký tự có thể được nhìn thấy trong dòng kết chúc thư của Hỏa quân Sozin là 威脅 [uy hiếp], nghĩa là "mối đe dọa", và 功師 [công sư] có lẽ là chữ cuối trong cụm từ "tiệt khí công sư" hay "khí nhân".
"The Runaway" sửa
Bài chi tiết: The Runaway
Posters panshot.png

Những áp phích tại văn phòng bưu cục Thành phố Hỏa Đài.

  • Áp phích truy nã Toph được đọc như sau:
緝拿逃犯
當局懸賞一千金幣緝捕十二歲女童
她喬裝盲人個子雖小極之危險
報訊即賞
Tập nã đào phạm
Đương cục huyền thưởng nhất thiên kim tệ tập bộ thập nhị tuế nữ đồng
Tha kiều trang manh nhân cá tử tuy tiểu cực chi nguy hiểm
Báo tấn tức thưởng
"Truy nã - Kẻ đào tẩu. Văn phòng sẽ cung cấp một phần thưởng ngàn đồng tiền vàng cho việc bắt giữ cô bé mười hai tuổi này. Cô ta cải trang mình thành một người mù và mặc dù ngoại hình nhỏ nhắn, cô ta cực kỳ nguy hiểm. Bất kỳ thông tin nào cũng sẽ được lĩnh thưởng."
傳訊鳥訓練班
日出時於郵政局集合
每課三銅板

Truyền tấn điểu huấn luyện ban
Nhật xuất thì ư bưu chính cục tập hợp
Mỗi khóa tam đồng bản

"Lớp huấn luyện chim đưa thư. Gặp nhau lúc bình minh tại văn phòng bưu cục. Mỗi buổi học giá ba đồng miếng."
  • Tờ áp phích trước lệnh truy bắt Toph đọc là 火 緝拿 [Hỏa - Tập nã], nghĩa là "Hỏa - Truy bắt". Đây có thể là bảng tín hiệu bắt đầu mục lệnh truy nã.
  • Tờ áp phích ở phía xa bên phải của tấm bảng đọc là 今晚街坊會議主題:空氣質量 街頭聚賭 [Kim vãn nhai phường hội nghị chủ đề: Không khí chất lượng, nhai đầu tụ đổ], nghĩa là "Chủ đề cho hội nghị dân phố tối nay: Chất lượng không khí và tệ nạn cờ bạc trên đường phố".
  • Tờ áp phích có hình hai con rồng nối chặt với nhau trong trái tim đọc là 餘烬島劇院 [Dư Tẫn đảo kịch viện], nghĩa là nhà hát Đảo Than Hồng, và nó ám chỉ đến những diễn viên đảo Than Hồng, và nội dung trông giống như áp phích dành cho vở "Tình yêu giữa những con rồng" (mà Zuko bảo rằng anh từng đi xem hàng năm với mẹ của mình).
"The Day of Black Sun, Phần 1: The Invasion "sửa
Bài chi tiết: The Day of Black Sun, Phần 1: The Invasion
  • Những bản đồ của Sokka được đọc như sau:[1]
第壹國皇家地圖 [Đệ nhất quốc hoàng gia địa đồ] - Tập bản đồ hoàng gia của quốc gia vĩ đại nhất (ám chỉ đến Hỏa Quốc).
卋界地圖 [Thế giới địa đồ] - Bản đồ thế giới
全國領土領海圖 [Toàn quốc lãnh thổ lãnh hải đồ] - Biểu đồ toàn bộ vùng lãnh thổ, vùng biển của Hỏa Quốc.
首都島地圖 [Thủ đô đảo địa đồ] - Bản đồ của đảo thủ đô.
皇家首都地圖 [Hoàng gia thủ đô địa đồ] - Bản đồ của thành phố hoàng gia.
"The Ember Island Players" sửa
Bài chi tiết: The Ember Island Players
Play poster.png

Suki cầm tờ áp phích giới thiệu vở kịch.

冰山上的男孩
土國著名劇作家浦安添新作搜集全球有関降卋神通資料由南極冰山至土國首都.
資料来自牧民歌手海盜戰犯和菜販.
由餘烬島演員主演
Băng sơn thượng đích nam hài
Thổ Quốc trứ danh kịch tác gia Phổ An Thiêm tân tác sưu tập toàn cầu hữu Giáng thế thần thông tư liệu hữu do Nam Cực băng sơn chí Thổ Quốc thủ đô.
Tư liệu lai tự mục dân ca thủ hải đạo chiến phạm hòa thái phán.
Do Dư Tẫn đảo diễn viên chủ diễn
"Cậu bé trong núi băng: Tác phẩm mới của nhà soạn kịch nổi tiếng Thổ Quốc Pu-on Tim đã thu thập nhiều thông tin về Thế thần khắp thế giới, từ núi băng ở Nam Cực cho đến kinh thành Thổ Quốc. Thông tin tham khảo từ những người ca sĩ du mục, cướp biển, những tù nhân chiến tranh và một vị thương nhân bắp cải có kiến thức rất sâu rộng. Vở diễn do những diễn viên đảo Than Hồng đảm nhiệm."
  • Biển hiệu ngoài cửa rạp hát đọc là 餘烬島劇院 [Dư Tẫn đảo kịch viện], nghĩa là "Nhà hát Đảo Than Hồng".
"Sozin's Comet, Phần 4: Avatar Aang" sửa
Bài chi tiết: Sozin's Comet, Phần 4: Avatar Aang
  • Màn kết thúc chương trình đọc là 劇終 [kịch chung], tức "kết thúc vở kịch", đơn giản nghĩa là "Kết thúc".

Văn bản khác sửa

  • Thư pháp chữ Hán trên tấm bìa của hộp DVD quyển ba (cũng như trên chiếc áo thun quà tặng ở buổi Comic-Con) có thể được xem dưới đây:
彗煞凶滔破長空
奧載暴君欲焚窮
安昂英立泰如月
干戈自此鳴不終

Tuệ sát hung thao phá trường không
Áo Tái bạo quân dục phần cùng
An Ngang anh lập thái như nguyệt
Can qua tự thử minh bất chung

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt trên có thể được dịch nghĩa như sau:
"Sao chổi hung tàn xé toạc trời xanh,
Bạo chúa Ozai phẫn nộ, khát mong thiêu rụi tất cả mọi thứ.
Anh hùng Aang tạo dựng nền thái bình vững như vầng trăng vĩnh hằng kia,
Nhưng âm thanh vang vọng của binh đao vẫn không có hồi kết."
  • Thông điệp mà Aang gửi cho Katara trong Giờ học gán ghép đọc là 卡塔拉 你可以跟我去跳舞嗎?昂 [Ca Tháp Lạp nhĩ khả dĩ cân ngã khứ khiêu vũ ma? Ngang], có nghĩa là "Katara, cậu sẽ đi dự buổi khiêu vũ cùng tớ chứ? Aang".

Truyện tranh Avatar sửa

Gym Time sửa

  • Trong truyện tranh Gym Time, Zuko đã dùng lửa 選接我 [tuyển tiếp ngã], nghĩa là "nhấc tôi lên".

Ember Island Arcade sửa

Bài chi tiết: Ember Island Arcade
  • Vì một lý do nào đó, ký hiệu trên cổng vào đường mái vòm đảo Than Hồng đọc là 近义词 [cận nghĩa từ], nghĩa là "từ gần nghĩa". Đáng chú ý ở chỗ nó được viết toàn bộ bằng chữ Hán giản thể.

Private Fire sửa

Bài chi tiết: Private Fire
  • Tờ áp phích Sokka cầm trong phần 1 của truyện tranh Private Fire được đọc như sau:
加人優勝者隊伍
到附近招募站報名.

Gia nhân ưu thắng giả đội ngũ
Đáo phụ cận chiêu mộ trạm báo danh.

Tham gia đội chiến thắng! Ghi danh tại trung tâm tuyển dụng địa phương ngày hôm nay!

Rebound sửa

Bài chi tiết: Rebound
  • Bảng hiệu bên ngoài hiệu hoa của Mura đọc là 花店 [hoa điếm], nghĩa là "cửa hàng hoa".
  • Áp phích về Ozai và dải băng đầu của hội Tân Ozai đều đọc là 敖載 [Ngao Tái], tức tên của Ozai trong tiếng Trung.

The Promisesửa

The Promise Phần 1sửa

Bài chi tiết: The Promise Phần 1
Yu Dao signs.png

Các cửa hiệu bên trong Yu Dao.

  • Những tấm bảng của đám đông bên ngoài Yu Dao được đọc là 滾回去 [cổn hồi khứ], nghĩa là "Cút đi!" hoặc "Về nhà đi!"; 還我和平 [hoàn ngã hòa bình] nghĩa là "Trả lại cho chúng tôi hòa bình!", 還我平安 [hoàn ngã bình an] nghĩa là "Trả lại cho chúng tôi bình yên!".
  • Trong cảnh Zuko đưa Aang đi xem vòng quanh Yu Dao, nhiều tấm biển hiệu có thể được nhìn thấy. Cái xa nhất phía sau đọc là 綠炎旅館 [Lục viêm lữ quán], nghĩa là "Quán trọ lửa lục". Tấm biển hiệu màu đỏ đọc là 玉島雜貨店 [Ngọc Đảo tạp hóa điếm], nghĩa là "Cửa hàng tạp hóa Yu Dao". Và hai cái biển hiệu màu vàng gần nhất được đọc là 美味火鍋食堂 [Mỹ vị hỏa oa thực đường], nghĩa là "Nhà hàng lẩu ngon".
  • Biển hiệu trước hiệu thợ rèn đọc là 老陳鐵匠鋪 [Lão Trần thiết tượng phố], nghĩa là "Hiệu rèn của lão Chen".
  • Trong cảnh mà gia đình Thị trưởng Morishita xuất hiện lần thứ hai, có thể nhìn thấy hai biển hiệu: cái thứ nhất đọc là 芬芳茶館 [Phân phương trà quán], nghĩa là "Quán trà thơm ngọt", tấm thứ hai đọc là 綠焰客棧 [Lục diễm khách sạn], nghĩa là "Nhà nghĩ lửa xanh".

The Promise Phần 2sửa

Bài chi tiết: The Promise Phần 2
  • Tấm bảng hiệu bên ngoài cửa Hội quán Thổ thuật Beifong đọc là 北方 [Bắc Phương], nghĩa là "Beifong".
  • Cuộn giấy treo bên trong phòng tập đọc là 欠揍嗎 [khiếm thấu ma], nghĩa là "Muốn đánh nhau không?".
  • Hai món có thể được nhìn thấy trong thực đơn của cửa hàng ramen là 大包 [đại bao] và 小籠包 [tiểu long bao], tức là hai loại bánh hấp truyền thống của Trung Quốc, mà ta thường gọi là bánh bao.
  • Dải buộc đầu của Sokka có hai chữ 加油 [gia du], nghĩa là "Cố lên!" hoặc "Bạn có thể làm được mà!".
  • Dòng thư pháp trên bảng hiệu của Câu lạc bộ Hâm mộ Thế thần Aang, chi hội Ba Sing Se đọc là 气和 [khí hòa], đây cũng là từ dùng trong đoạn tiêu đề của chương trình.
  • Cuộn giấy treo bên trong phòng bên cạnh của phòng tập đọc là  [Luyện], nghĩa là "rèn kim loại".
  • Tấm cờ bên phải trên đầu của sư phụ Kunyo được trang trí bằng chữ  [liệt], nghĩa là "mãnh liệt", "dữ tợn" hoặc "cháy bỏng".

The Search sửa

The Search Phần 1 sửa

Bài chi tiết: The Search Phần 1
  • Bức thư của Ursa được đọc như sau:
Zuko reading Ursa's letter.png

Zuko đọc bức thư của Ursa.

我最親愛的 毅勤
我過了很久才承認
但是你是對的
我是屬於你的
沒有什麼值得受這痛苦的
我唯一的安慰是我們的兒子豎高
我注視他的眼睛時
就像注視你的眼睛一樣
我時刻都想念著你
愛你的
爾姝
Ngã tối thân ái đích Nghị Cần
Ngã quá liễu ngận cửu tài thừa nhận
Đãn thị nhĩ thị đối đích
Ngã thị thuộc ư nhĩ đích
Một hữu thậm ma trị đắc thụ giá thống khổ đích
Ngã duy nhất đích an ủy thị ngã môn đích nhi tử Thụ Cao
Ngã chú thị tha đích nhãn tình thời
Tựu tượng chú thị nhĩ nhãn tình nhất dạng
Ngã thời khắc đô tưởng niệm trước nhĩ
Ái nhĩ đích
Nhĩ Xu
"Ikem yêu quý của thiếp, rất lâu để thiếp có thể thừa nhận rằng, chàng đã đúng. Thiếp thuộc về chàng và không gì đau hơn nỗi đau này. Niềm an ủi duy nhất của thiếp là con trai của chúng ta, Zuko. Khi thiếp nhìn vào đôi mắt của nó, giống như thiếp đang nhìn chàng vậy. Tâm hồn của thiếp luôn ở bên chàng. Yêu chàng, Ursa."
  • Trên phiến đá dưới biểu tượng của Hỏa Quốc, có chữ  [liệt], nghĩa là "mạnh mẽ".

The Search Phần 2 sửa

Bài chi tiết: The Search Phần 2
  • Tấm biển đặt tại lối vào thung lũng Quên Lãng đọc 忘憂谷 [Vong Ưu cốc], nghĩa là "thung lũng quên lãng sầu đau".

The Rift sửa

The Rift Phần 1 sửa

Bài chi tiết: The Rift Phần 1
  • Tên gọi trên bảng hiệu của nhà máy lọc đọc là 泥土火公司 [Nê thổ hỏa công ty], nghĩa là "công ty lửa đất".

The Rift Phần 2 sửa

Bài chi tiết: The Rift Phần 2
  • Biển hiệu bên ngoài quán ăn của thương nhân bắp cải đọc là 包心美食小館 [Bao tâm mỹ thực tiểu quán], dịch là "Tiệm ăn ngon Bắp Cải".[ct 1]

The Rift Phần 3 sửa

Bài chi tiết: The Rift Phần 3
  • Những tấm biểu ngữ được cầm lên trong buổi diễu hành chúc mừng đọc là 神靈 [thần linh], nghĩa là "thần linh".

Smoke and Shadow sửa

Smoke and Shadow Phần 1 sửa

Bài chi tiết: Smoke and Shadow Phần 1
  • Biển hiệu treo bên ngoài lối cổng vào hiệu hoa của Mura hiển thị chữ 花店 [hoa điếm], nghĩa là "cửa hàng hoa".

Smoke and Shadow Phần 2 sửa

Bài chi tiết: Smoke and Shadow Phần 2
  • Dải băng đầu của những thành viên Hội Quốc An mang chữ 國安 [quốc an], được dịch nghĩa là "an ninh quốc gia". Chữ  [quốc] có nghĩa là "đất nước" và chữ  [an] có nghĩa là "an toàn".

The Legend of Korra sửa

Quyển Một: Khí sửa

"Welcome to Republic City" sửa
Bài chi tiết: Welcome to Republic City
Downtown signs.png

Các biển hiệu dọc bên đường ở một con phố trong khu trung tâm.

  • Tấm áp phích phía sau phát ngôn viên Hội Bình Đẳng được trang trí phù hiệu bằng chữ  [bình], nghĩa là "công bằng, bình đẳng". Biểu ngữ hai bên 参加革命 [tham gia cách mệnh], nghĩa là "tham gia cuộc cánh mạng".
  • Trong cảnh Korra đấu với nhóm xã hội đen và cảnh rượt đuổi tiếp theo sau đó, nhiều biển hiệu có thể được nhìn thấy và hầu hết trong số chúng được lặp đi lặp lại trong suốt cảnh. Đó là 餃子 [giáo tử] nghĩa là "bánh bao bột"; 新鲜蔬果 [tân tiên sơ quả] nghĩa là "rau củ quả tươi"; 珠寶 [châu bảo] nghĩa "châu báu"; 雜貨店 [tạp hóa điếm] nghĩa là "cửa hàng tạp hóa"; 古董 [cổ đồng] nghĩa là "đồ cổ"; 書店 [thư điếm] nghĩa là "hiệu sách"; 理髮店 [lí phát điếm] nghĩa là "tiệm hớt tóc"; 药材店 [dược tài điếm] nghĩa là "cửa hàng thảo dược"; 裁縫 [tài phùng] nghĩa là "thợ may"; 粉麵 [phấn miến] nghĩa là "mì"; 服裝店 [phục trang điếm] nghĩa là "cửa hàng quần áo"; 針灸 [châm cứu] nghĩa là "châm cứu".
  • Biển hiệu trên cửa hàng máy hát mà Hội Tam Hoàng ghé qua đọc là 留声機 [lưu thanh cơ​], nghĩa là "máy đĩa hát" và tấm biển ở hiệu đồng hồ đối diện đọc là 鐘表店 [chung biểu điếm], nghĩa là "hiệu đồng hồ".
  • Chiếc khí cầu của cảnh sát có chữ 警察 [cảnh sát] được vẽ phía trước và mặt bên.
"A Leaf in the Wind" sửa
Bài chi tiết: A Leaf in the Wind
  • Tờ báo mà Korra đang đọc trên bàn có chữ 元訊 [Nguyên Tấn] in trên đầu trang. Thông thường, nhiều tên và tựa đề tiếng Hán có rất nhiều nghĩa; ở đây, tiêu đề trên đầu trang có thể được dịch là "Trang đầu", "Tin mới nhất", gần nghĩa với "Tin tức nổi bật". Nó cũng có nghĩa là "Tờ báo Yuan".
  • Tờ báo có ảnh có hình Cảnh sát trưởng Lin BeifongTarrlok mà Korra sử dụng làm vật tập luyện khi cố gắng thi triển khí thuật gọi là 共和國新聞 [Cộng Hòa Quốc tân văn], nghĩa là "Tờ báo Cộng Hòa".
  • Các ống con lăn chấm điểm đọc là 第一囬合 [Đệ nhất hồi hiệp] nghĩa là "hiệp một"; 第二囬合 [Đệ nhị hồi hiệp] nghĩa là "hiệp hai"; 擊倒 [kích đảo] nghĩa là "đòn nốc ao"; và 優勝者 [ưu thắng giả] nghĩa là "người thắng cuộc".
"The Revelation" sửa
Bài chi tiết: The Revelation
Revelation flyer.png

Tờ rơi cho buổi Khải Huyền có hình Amon.

  • Mặt trước của tờ tiền 25 yuan có chữ 廿五 [chấp ngũ] được viết trên mặt, nghĩa là "hai mươi lăm" và chữ 共和城 [Cộng Hòa thành] phía trên đầu nghĩa là "Thành phố Cộng Hòa". Mặt sau cũng được viết lại mệnh giá tờ tiền và chữ 卋界之家 [thế giới chi gia] phía trên đầu nghĩa là "ngôi nhà chung của thế giới".
  • Khi Korra và Mako lần đầu chạm trán với những điểm chi gia, biển hiệu cửa hàng đằng sau được đọc là 药材店 [dược tài điếm] nghĩa là "cửa hàng thảo dược" và 理髮店 [lí phát điếm] nghĩa là "tiệm hớt tóc".
  • Tờ rơi mà bình luận viên Hội Bình Đẳng cầm trên tay đọc là 見證 今晚九時 [Kiến chứng - Kim vãn cửu thì], nghĩa là "Đến chứng kiến - Chín giờ tối nay".
  • Tấm áp phích đằng sau Amon đọc là 見證 参加革命 [kiến chứng tham gia cách mệnh], nghĩa là "Hãy chứng kiến! Tham gia cách mạng!", tấm biểu ngữ một lần nữa được trang trí với chữ  [bình] nghĩa là "bình đẳng".
"The Voice in the Night" sửa
Bài chi tiết: The Voice in the Night
Clock.png

Đồng hồ Bảo tàng Tưởng niệm Thế thần Aang.

  • Tấm biển bên ngoài cửa Ẩm thực Kwong được đọc là 鄺氏美食 [Quảng thị mỹ thực] nghĩa là "Món ngon họ Quảng".
  • Biểu ngữ dành cho nhóm Korra trước Tòa thị chính Thành phố Cộng Hòa đọc là 降卋神通 [Giáng thế thần thông], nghĩa là "Thế thần".
  • Biển hiệu trước hiệu sách đọc là 書店 [thư điếm] đơn giản chỉ là "nhà sách".
  • Tấm áp phích ở trong phòng luyện tập bí mật của Hội Bình Đẳng đọc là 阿蒙就是答案 [A Mông tựu thị đáp án] nghĩa là "Amon chính là giải pháp".
  • Trên mặt đồng hồ có các chữ số 1 đến 12 viết bằng tiếng Trung bố trí xung quanh theo vòng. Các ký tự trên hai vòng bên trong được viết bằng triện thư, một kiểu chữ cổ thư pháp Trung Hoa.
"The Aftermath" sửa
Bài chi tiết: The Aftermath
Police tape.png

Dải băng của cảnh sát.

  • Dải băng của cảnh sát được đọc là 共和城警察 [Cộng Hòa thành cảnh sát], nghĩa là "Cảnh sát Thành phố Cộng Hòa".
  • Tấm áp phích ở bên dưới tầng hầm nhà máy của Hội Bình Đẳng đọc là 阿蒙就是答案 [A Mông tựu thị đáp án] nghĩa là "Amon chính là giải pháp" và 跟着阿蒙 [Cân trữ A Mông] nghĩa là "Hãy đi theo Amon!"
"When Extremes Meet" sửa
Bài chi tiết: When Extremes Meet
  • Bảng đồng hồ điều khiển trên xe hơi của Asami có những con số 1-14 được viết xung quanh mép.
  • Biển hiệu trên những chiếc xe cảnh sát đọc là 共和城警隊 [Cộng Hòa thành cảnh đội''], nghĩa là "Lực lượng Cảnh sát Thành phố Cộng Hòa".
"Turning the Tides" sửa
Bài chi tiết: Turning the Tides
"Skeletons in the Closet"/"Endgame" sửa
Bài chi tiết: Skeletons in the Closet
Bài chi tiết: Endgame

Quyển Hai: Thần Linh sửa

"Peacekeepers" sửa
Bài chi tiết: Peacekeepers
Southern peace march.png

Cuộc tuần hành trước Trung tâm Văn hóa Nam Thủy Tộc.

  • Những tấm bảng của người biểu tình Nam Thủy Tộc đọc là 和平 [hòa bình], nghĩa là "hòa bình", 南方自主 [Nam phương tự chủ] nghĩa là "quyền tự chủ cho phương Nam" và 自由 [tự do] nghĩa là "tự do".
  • Cuộn băng của cảnh sát đọc là 共和城警察 [Cộng Hòa thành cảnh sát], nghĩa là "Cảnh sát Thành phố Cộng Hòa".
  • Tờ áp phích trong căn hộ của Mako và Bolin đọc là 火焰貂 [Hỏa diễm điêu], nghĩa là "Chồn Sương Lửa".
  • Quyển sách trong ngăn kéo của Lu và Gang đọc là 做人之道 [Tố nhân chi đạo], nghĩa là "Đạo lý làm người".
"The Sting" sửa
Bài chi tiết: The Sting
  • Màn hình tiêu đề kết thúc của "Nuktuk, anh hùng phương Nam" đọc là 努篤 南方英雄 [Nỗ Đốc, Nam phương anh hùng], chính là tên tiếng Trung của bộ phim.
"A New Spiritual Age" sửa
Bài chi tiết: A New Spiritual Age
  • Trang đầu tiên của cuốn sách mà Jinora tìm thấy đọc là:
Jinora's library book.png

Trang đầu tiên của cuốn sách Jinora tìm thấy ở thư viện.

南北神靈鏖戰
由精神卋界
進入物質卋界
雙方能量對流
産生南北門户

Nam Bắc thần linh ao chiến
Do tinh thần thế giới
Tiến nhập vật chất thế giới
Song phương năng lượng đối lưu
Sản sinh nam bắc môn hộ

"Các tinh linh ở phương Bắc và phương Nam đang tham gia vào một trận giao chiến khốc liệt, từ thế giới tâm linh đang nhập vào thế giới vật chất. Năng lượng trung chuyển giữa hai bên, tạo ra các cổng BắcNam."
  • Hình ảnh ở trang thứ hai được chú thích là 時間之樹 [Thời gian chi thụ], nghĩa là Cây Thời Đại.
"Night of a Thousand Stars" sửa
Bài chi tiết: Night of a Thousand Stars
  • Tờ áp phích có chữ ký của Bolin đọc là 親爱的馬髙 努篤笑着说 [Thân ái đích Mã Cao, Nỗ Đốc tiếu trứ thuyết], nghĩa là "Mako yêu quý, Nuktuk bảo rằng 'hãy luôn mỉm cười'!".
  • Mọi tờ áp phích trên Đấu trường Ngự thuật Chuyên nghiệp đều đọc là "Nuktuk - anh hùng phương Nam".

Quyển Ba: Dịch sửa

"The Earth Queen" sửa
Bài chi tiết: The Earth Queen
  • Những tâm biển hiệu vùng Hạ Hoàn Ba Sing Se bao gồm các chữ  [long] nghĩa là "rồng" và  [miến] nghĩa là "mì, sợi miến".
  • Bức thư San gửi Yin đọc là:
San's letter.png

Bức thư của San.

已经结婚, 有了两個兒子名…
愽林. 他们带来不少歡楽也…
許多麻烦. 相信您们是体會…
希望有一天您们會和他们相…
上我们的照片.
Dĩ kinh kết hôn, hữu liễu lưỡng cá nhi tử danh …
Bác Lâm. Tha môn đái lai bất thiểu hoan lạc dã …
Hứa đa ma phiền tương tín nâm môn thị thể hội …
hi vọng hữu nhất thiên nâm môn hội hòa tha môn tương…
Thượng ngã môn đích chiếu phiến.
"... đã kết hôn, và có hai đứa con trai tên là [Mako và] Bolin. Bọn trẻ đem đến cho chúng con rất nhiều niềm vui ... và cũng không ít phiền toái. Con nghĩ rằng mẹ sẽ thông cảm cho chuyện đó ... và hy vọng một ngày không xa mẹ cùng bọn trẻ có thể ... một bức ảnh gửi cho chúng con."
"The Metal Clan" sửa
Bài chi tiết: The Metal Clan
  • Cặp câu đối của Guru Laghima khắc trên miếng mề đay đọc là 出塵卋羈絆 入虛無如風 [Xuất trần thế cơ bán - Nhập hư vô như phong] nghĩa là "Xả bỏ trói buộc trần thế - Nhập vào hư vô tựa ngọn gió nhẹ nhàng".
  • Tựa đề trang mặt của tờ báo mà Lin Beifong đang đọc, đọc là 保安隊 [Bảo an đội] nghĩa là "đội cảnh sát".
"Old Wounds" sửa
Bài chi tiết: Old Wounds
Guo's business card.png

Danh thiếp bác sĩ Guo.

  • Danh thiếp của bác sĩ Guo đọc là 郭大夫 針灸師. 皂阜市大街二十三號 [Quách đại phu châm cứu sư. Tạo Phụ thị đại nhai nhị thập tam hiệu] nghĩa là "Bác sĩ Quách chuyên khoa châm cứu. Phố số 23 thành phố Zaofu".
  • Những tấm biển hiệu khi Lin đối đầu với Suyin trong ký ức của cô từ trái sang phải lần lượt là 服裝店 [phục trang điếm] nghĩa là "cửa hàng quần áo", 珠寶 [châu bảo] nghĩa là "đồ trang sức" và 药材店 [dược tài điếm] nghĩa là "cửa hàng dược liệu thảo mộc".
"The Terror Within" sửa
Bài chi tiết: The Terror Within
  • Bức thư Mako tìm thấy trong nhà riêng của Hong Li đọc là 隊伍斉集 待命行事 [Đội ngũ tề tập đãi mệnh hành sự], nghĩa là "Đến đông đủ, chuẩn bị hành động".
  • Bìa sách Mako đưa cho Aiwei được khắc hiệu với dòng chữ 皂阜保安隊 [Tạo Phụ bảo an đội], nghĩa là "Cảnh sát Zaofu".
"The Stakeout" sửa
Bài chi tiết: The Stakeout
  • Phần nội dung của lệnh truy nã đọc là:
Korra's wanted poster.png

Cáo thị truy nã Korra.


土國皇后諭旨
緝拿下列人犯
通風報訊者重賞

Phụng
Thổ Quốc hoàng hậu dụ chỉ
Tập nã hạ liệt nhân phạm
Thông phong báo tấn giả trọng thưởng

"Chú ý - Thánh chỉ của Thổ hậu. Những tên phạm nhân dưới đây phải bị bắt giữ và trừng trị. Ai có thông tin sẽ được trọng thưởng."
  • Mỗi tờ lệnh được đóng dấu với tên của hình ảnh phạm nhân bị truy nã: của Bolin đọc là 共和城愽林 [Cộng Hòa thành Bác Lâm] nghĩa là "Bolin từ Thành phố Cộng Hòa" và của Korra đọc là 神通寇柆 [Thần thông Khấu Lạp] nghĩa là "Thế thần Korra". Con dấu của hoàng hậu đọc là 土國皇后之璽 [Thổ Quốc hoàng hậu chi tỉ] nghĩa là "Ngọc tỉ của Hoàng hậu Thổ Quốc".
  • Tấm bảng trên lối vào ốc đảo Cọ Sương đọc là 霧櫚緑洲 [Vụ Lư lục châu].
Asami's map.png

Tấm bản đồ của Asami trình bày chi tiết khu vực tây nam sa mạc Si Wong.

  • Tấm bản đồ có một loạt những địa điểm được trình bày. Từ trái sang phải là: 七日寺 [Thất Nhật tự] "chùa Thất Nhật", 文荒漠 [Văn hoang mạc] "sa mạc Văn", 朝陽市集 [Triều Dương thị tập] "chợ Triều Dương", 金鳳山 [Kim Phụng sơn] "núi Kim Phụng", 霧櫚緑洲 [Vụ Lư lục châu] "ốc đảo Cọ Sương", 死亡沙漠 [Tử Vong sa mạc] "sa mạc Si Wong" và 杜安村 [Đỗ An thôn] "làng Đỗ An". Còn có một địa danh phía dưới của bản đồ nhưng màn hình không đủ cho phép hiển thị hoàn toàn và tên của nó được bắt đầu bằng chữ  [thụy], nghĩa là "ngủ".
  • Biển hiệu bên ngoài quán trọAiwei đang lưu trú đọc là 霧櫚客栈 [Vụ Lư khách sạn].
  • Hai cuốn sách trong ngăn tủ của nhà trọ là 做人之道 [Tố nhân chi đạo], nghĩa là "Đạo lý làm người" và 牌數規則手册 [Bài sổ quy tắc thủ sách], nghĩa là "Sổ tay luật chơi Pai Sho".

Quyển Bốn: Bình Hoành sửa

"After All These Years" sửa
Bài chi tiết: After All These Years
  • Tấm biển bên ngoài cổng vào thành Yi đọc là 夷國京師 [Di Quốc kinh sư] có nghĩa là "chốn đô hội nước Yi".
  • Chú thích tấm bản đồ trên tàu cao tốc của Kuvira đọc là 土國一統全輿圖臨時大總統古維拉轄下 [Thổ Quốc nhất thống toàn dư đồ lâm thời đại tổng thống Cổ Duy Lạp hạt hạ], có nghĩa là "Bản đồ Thổ Quốc thống nhất dưới sự quản lý của Tổng thống tạm thời Kuvira".
  • Tên khách sạn mà Hoàng tử Wu ở có tên là 四元賓館 [Tứ Nguyên tân quán], nghĩa là "khách sạn Bốn Nguyên Tố".
  • Bản khế ước mà Kuvira đưa cho vị tổng đốc đại nhân đọc là:
Kuvira's contract.png

Bản khế ước của Kuvira với nước Yi.

謹依本條約,解體夷國。
根據前述條款,由國際任命
土國臨時大總統金族古維拉
保護及管轄。
夷國總統
土國臨時大總統古維拉
Cẩn y bản điều ước, giải thể Di Quốc.
Căn cứ tiền thuật điều khoản, do quốc tế nhậm mệnh
Thổ Quốc lâm thời đại tổng thống kim tộc Cổ Duy Lạp
bảo hộ cập quản hạt.
Di Quốc tổng thống
Thổ Quốc lâm thời đại tổng thống Cổ Duy Lạp.
"Căn cứ trên hiệp ước hiện nay, nước Yi bị giải thể. Trên cơ sở các điều khoản nói trên, Tổng thống tạm thời của Thổ Quốc, Kuvira của Kim Tộc được quốc tế giao phó bảo hộ và quản lý các vùng.
Tổng thống nước Yi
Tổng thống tạm thời của Thổ Quốc, Kuvira."
  • Tấm biểu ngữ của Kuvira đọc là 古維拉總統 一統夷國 [Cổ Duy Lạp tổng thống, nhất thống Di Quốc], có nghĩa là "Tổng thống Kuvira, thống nhất nước Yi!"
"The Coronation" sửa
Bài chi tiết: The Coronation
Little Ba Sing Se lower ring.png

Khối biển hiệu treo ở khu Hạ Hoàn của Trung tâm thời trang Tiểu Ba Sing Se.

  • Khối biển treo lên trong Trung tâm thời trang Tiểu Ba Sing Se đọc là 小永固 [Tiểu Vĩnh Cố], có thể được dịch là "Tiểu Ba Sing Se". Chữ Hán dùng cho Ba Sing Se là  [vĩnh] và  [cố], nghĩa là "vững vàng mãi mãi".
  • Biển hiệu trong cảnh nền khi Wu và Mako ngồi uống nước hoa quả đọc là 快樂 [khoái lạc], nghĩa là "vui vẻ". Tấm màn treo cửa hiệu bên cạnh đọc là 紅烧肉 [hồng thiêu nhục], nghĩa là "thịt om đỏ".
  • Những cửa hàng khi vua Wu đối mặt những người bán áo thun có hình Kuvira đọc là 海鲜 [hải tiên], 水果 [thủy quả] và 地毯 [địa thảm] có nghĩa lần lượt là "hải sản", "trái cây" và "đệm thảm".
"The Calling" sửa
Bài chi tiết: The Calling
  • Biển hiệu của ngôi nhà của thị trấn đầu tiên MeeloIkki ghé đến đọc là 家康酒樂 [Gia Khang tửu lạc], có nghĩa là "quán rượu Jia Kang".
  • Tấm bảng treo trên phố nơi mà Meelo gặp Tuyen có vẻ được đọc là 羊北, có thể được dịch theo nghĩa đen là "con dê bắc".
  • Tấm bảng dọc phía trên tường có vẻ đọc là 市北国 [Thị bắc quốc], có thể được dịch là "vùng phố bắc".
"The Battle of Zaofu" sửa
Bài chi tiết: The Battle of Zaofu
  • Những biểu ngữ treo lên sau khi Kuvira chiếm được Zaofu đọc là 古維拉萬歲 [Cổ Duy Lạp vạn tuế], nghĩa là "Kuvira vạn tuế!" và 土帝國 [Thổ đế quốc] nghĩa là "Đế quốc Thổ".
"Reunion" sửa
Bài chi tiết: Reunion
  • Trang yết thị mặt sau của cuốn tạp chí mà Asami cầm đọc là:
女士們,我們工業需要你!
你有一份...又高...的職位嗎
來我們招辦事處安排面試吧
我們提供專家和初級職位
不要遲疑 快掌握你的未來
Nữ sĩ môn, ngã môn công nghiệp nhu yếu nhĩ!
Nhĩ hữu nhất phần ... hựu cao ... đích chức vị ma
Lai ngã môn chiêu biện sự xứ an bài diện thí ba
Ngã môn đề cung chuyên gia hòa sơ cấp chức vị
Bất yếu trì nghi, khoái chưởng ác nhĩ đích vị lai.
"Các quý cô thân mến, nền công nghiệp của chúng tôi cần các bạn! Các bạn có muốn ... và vị trí ... cao? Hãy đến văn phòng tuyển dụng của chúng tôi để sắp xếp cuộc phỏng vấn. Chúng tôi mời chào các vị trí cho người có chuyên môn lẫn những người mới bắt đầu. Đừng chờ đợi, hãy nhanh lên và nắm bắt tương lai của các bạn!"
Asami's magazine.png

Mặc bìa sau tạp chí của Asami.

Bản dịch của tờ yết thị này trong The Legend of Korra—The Art of the Animated Series, Book Four: Balance là: "Các quý cô thân mến, Công Nghiệp Tương Lai cần các bạn! Bạn có hứng thú với công việc hấp dẫn và mức lương hậu hĩnh? Hãy đến một trong những văn phòng tuyển dụng của chúng tôi để sắp xếp cuộc phỏng vấn. Chúng tôi mời chào các vị trí cho người có chuyên môn lẫn những người mới bắt đầu. Đừng chờ đợi, đến đây và nắm lấy tương lai của bạn!"
  • Cáo thị truy nã Bolin đọc là 懸賞緝拿 前下士愽林 土帝國叛徒 [Huyền thưởng tập nã, tiền hạ sĩ Bác Lâm, Thổ đế quốc bạn đồ] nghĩa là "Truy nã treo thưởng: cựu hạ sĩ quan Bolin, kẻ phản bội Đế quốc Thổ.", tờ truy nã của Varrick đọc tương tự ngoại trừ tên được thay thế bằng 法力克 [Pháp Lực Khắc], tên của Varrick.
"Remembrances" sửa
Bài chi tiết: Remembrances
  • Tấm hoành phi trong phòng tập luyện của Asami đọc là 北少林 [Bắc Thiếu Lâm], nghĩa là "Bắc Thiếu Lâm", tên của một trường phái võ thuật Trung Hoa.
"Operation Beifong" sửa
Bài chi tiết: Operation Beifong
  • Biển phía trên trạm tàu bỏ hoang trong Linh Hoang Thành phố Cộng Hòa đọc là 二十五 [nhị thập ngũ], nghĩa là "25".
"Kuvira's Gambit" sửa
Bài chi tiết: Kuvira's Gambit
Wu's evacuation speech background.png

"... Nhưng nếu chúng ta để nỗi sợ ấy lấn át, thì sẽ không còn ai dám tự đi vệ sinh được nữa..." - Wu.

  • Những biểu ngữ xuất hiện trong cảnh nền khi Wu đang gửi thông điệp di tản phát thanh đến mọi người khắp thành phố đọc là 竜町 [Long Đinh] - "Long Ting (quận)",  [phẩm] - "hàng hóa, đồ vật" và 左仲丁 [tả trọng đinh] có thể được hiểu là "người giúp việc". Hai cửa tiệm mặt tiền có biển hiệu đọc là 彦宝服 [Ngạn Bảo phục], nghĩa đen là "quần áo người tài bảo bối" và có thể được hiểu là "Hiệu phục trang Yan Bao", 徒王音城 [Đồ vương âm thành] có nghĩa đen là "tòa thành âm thanh của vua học trò" và có thể được hiểu là "Thế giới âm thanh Tu Wang", chữ bên nằm trong hình mặt trời đọc là  [thổ], nghĩa là "đất".
  • Tấm bàn phím số trước của cánh cửa bên trong phi thuyền của Baatar Jr. gồm các chữ số từ 0 đến 9 trong tiếng Trung cùng với chữ  [tỉnh] ở mặt trái phía dưới nhìn giống như số hiệu nhưng thực ra nghĩa là "cái giếng" và  [tinh] ở mặt phải phía dưới nghĩa là "ngôi sao" có lẽ là tham chiếu đến dấu hoa thị. Lưu ý rằng hai phím này bị đổi chỗ khi cho sánh với với bàn phím số ở thế giới thực.
"Day of the Colossus" sửa
Bài chi tiết: Day of the Colossus
  • Chữ trên cửa kính tiệm sơn được đọc là 富彩 [Phú thái], nghĩa là "màu sắc giàu có, dồi dào".
  • Tấm pa-nô quảng cáo của Công Nghiệp Tương Lai có cùng văn bản với tờ tạp chí mà Asami đọc trong "Reunion" nhưng được in ở mặt sau.

Buổi họp báo Comic-Con San Diego sửa

Trong buổi họp báo Comic-Con, Korra được nhìn thấy chiến đấu với nhiều tên Bình Đẳng viên, một số dấu hiệu và quảng cáo có thể nhìn thấy mặc dù không phải tất cả đều rõ ràng:  [lai], nghĩa là "đến" hoặc "trở lại",  [phong], nghĩa là "gió" và 火人街 [Hỏa nhân nhai] tức "phố hỏa nhân".

Văn họcsửa

Có rất nhiều sách và tài liệu trong thế giới Avatar, hầu hết chúng hoặc bản sao của chúng đều nằm trong thư viện của Wan Shi Tong.

Danh sách các tác phẩm đã biếtsửa

Book of Clouds.png

Sách mây.

  • Bách khoa toàn thư - một bộ sưu tập các thông tin mà Thổ vương Kuei dùng để dạy Bosco làm thế nào để sống trong thế giới hoang dã.[2]
  • Biểu đồ chiêm tinh - một biểu đồ của những vì sao trên bầu trời. Dùng để giúp người đi định hướng vượt qua những vùng đất lạ bằng cách theo hướng của những ngôi sao.
  • Cậu bé trong núi băng của Pu-on Tim: một vở kịch kể lại hành động của Đội Thế thần trong năm cuối của cuộc chiến nhưng có kết thúc thắng lợi thuộc về Hỏa Quốc.
  • Cuộn giấy - một thông điệp bí mật được gửi cho Zuko từ một người khoác áo choàng bí ẩn.[3]
  • Di nguyện cuối cùng và chúc thư của Hỏa quân Sozin bởi Hỏa quân Sozin - một bản tự truyện của Hỏa quân Sozin được giấu trong cổ mộ Long Cốt.[3]
  • Đạo lý làm người - một cuốn sách được tìm thấy trong ngăn kéo của viên thám tử. Trên mặt bìa cuốn sách có hình vẽ một người nam cởi trần đang trong tư thế võ công.[4]
  • Lịch sử Đội Thế thần - một bản sử thi thuật lại cuộc hành trình của Aang và những người bạn.
  • Nhật ký của Katara - hồi ký của Katara sau sự kiện Ba Sing Se thất thủ.[5]
  • Sách mây - một quyển sách thuộc sở hữu của nhà tiên tri Cô Wu, sử dụng trong việc tiên đoán ý nghĩa là điềm báo của những hình dạng mây.
  • Tập bản đồ hoàng gia của quốc gia vĩ đại nhất: một tập bản đồ cỡ lớn của Hỏa Quốc, vùng lãnh thổ và các thành phố của nó. Một bản sao được Hakoda sử dụng để lên kế hoạch xâm lược Hỏa Quốc trong ngày Mặt Trời Đen nhưng thất bại.[6]
  • Thiên tình sử - câu chuyện về một tình yêu bất hạnh trong lịch sử giữa một công chúa và con trai của một tướng quân. Bởi vì họ không thể đến bên nhau, cô gái cưỡi rồng đến chiến trường và thiêu rụi toàn bộ đất nước trước khi cô tự lao vào trong miệng núi lửa.[7]
  • Thủy thuật trục thư - một cuộn trục hiếm có và quý giá chỉ dạy thủy thuật của Bắc Thủy Tộc đã bị bọn cướp biển đánh cắp, sau đó được Katara cướp lại và đóng góp cho bộ sưu tập thư viện Wan Shi Tong.

Báo chí sửa

Fire Nation councilwoman's husband.png

Tờ Nhật báo Liên Hiệp được đọc bởi phu quân của bà hội đồng Hỏa Quốc.

Báo là một loại của ấn phẩm bình dân hàng ngày được tìm thấy tại Thành phố Cộng Hòa, nó gồm những câu chuyện tin tức, sự kiện hiện tại và những bản tin về những gì đang diễn ra trong và xung quanh thành phố. Có đến ít nhất ba tờ báo hoạt động trong thành phố: Tờ báo Yuan (元訊 [Nguyên Tấn]), Tờ báo Cộng Hòa (共和國新聞 [Cộng Hòa quốc tân văn]), Nhật báo Liên Hiệp (聯合日報 [Liên Hiệp nhật báo]).

Ghi chú sửa

Bộ chữ được sử trong Avatar là chữ Hán phồn thể hay chữ Hán truyền thống, được sử dụng chính thức ở Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc), Hồng Kông và Ma Cao cũng như đông đảo các cộng đồng Hoa kiều tại hải ngoại. Nhiều chữ đã được đơn giản hóa trong thế kỷ 20 như một phần của chiến dịch xóa mù chữ của chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc[8] nhằm tăng tỉ lệ biết chữ cho mọi người, đơn giản hóa cách viết chữ Hán và được sử dụng rộng rãi cho mục đích đọc viết hàng ngày ở Trung Quốc đại lục, bộ chữ Hán giản thể còn được sử dụng tại Singapore, Malaysia cũng như bởi Liên Hiệp Quốc. Người đọc cần lưu ý rằng trái ngược với lầm tưởng phổ biến, hầu hết chữ Hán không phải là đại diện cách điệu của hình ảnh, tức hầu hết các chữ Hán không phải là chữ tượng hình. Mặc dù nhiều chữ có thể đã từng một lần là chữ tượng hình nhưng qua nhiều thế kỷ sự đổi thay đã làm cho sự tương đồng như thế gần như không còn tồn tại.

Tam khoa sửa

  • Nội dung Hán văn trong Avatar: The Last AirbenderThe Legend of Korra được cố vấn văn hóa của chương trình - Tiến sĩ Siu-Leung Lee cung cấp. Ông tạo ra tất cả bản dịch và thư pháp trong cả hai chương trình, kể cả thư pháp trong biểu trưng của loạt phim gốc. Kiến thức rộng lớn của ông về những phong cách thư pháp khác nhau trong suốt lịch sử của Trung Quốc đã xây dựng cho chương trình yếu tố văn hóa nền tảng. Hầu hết người Trung Quốc xưa đều dùng chữ Hán cổ, tiến sĩ Lee đã sử dụng kiến thức sâu sắc của ông về Trung Quốc cổ đại cho các bản văn cổ về tinh linh và nguyên tố trong chương trình.
  • Chữ viết trong phim truyện tương thích The Last Airbender sử dụng ngôn ngữ nhân tạo có chữ viết được cách điệu hóa và ảnh hưởng theo lối thư pháp Trung Hoa thay vì dùng chữ Hán như chương trình gốc.

Chú thíchsửa

  1. Từ "bắp cải" được tạo thành từ ba chữ Hán là  [bao],  [tâm] và  [thái]. Hai chữ 包心 bao tâm chỉ có nghĩa là "trái tim bao gộp", chữ thái nghĩa là "rau cải".

Tham khảosửa

  1. 1,0 1,1 1,2 1,3 1,4 1,5 1,6 1,7 Avatar: The Last Airbender—The Art of the Animated Series
  2. Ấn phẩm Tạp chí Nick - "It's Only Natural".
  3. 3,0 3,1 "The Avatar and the Fire Lord". Elizabeth Welch Ehasz (biên kịch) & Ethan Spaulding (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 26 tháng 10, 2007. Quyển 3: Hỏa, Chương 6.
  4. "Peacekeepers". Tim Hedrick (biên kịch) & Colin Heck (đạo diễn). 4 tháng 10, 2013. The Legend of Korra. Nickelodeon. Quyển 2: Thần Linh, Chương 5.
  5. Ấn phẩm Tạp chí Nick - "The Bridge".
  6. "The Day of Black Sun, Phần 1: The Invasion". Michael Dante DiMartino (biên kịch) & Giancarlo Volpe (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 30 tháng 11, 2007. Quyển 3: Hỏa, Chương 10.
  7. "The Spirit of Competition". Michael Dante DiMartino, Bryan Konietzko (biên kịch) & Joaquim Dos Santos, Ki Hyun Ryu (đạo diễn). 5 tháng 5, 2012. The Legend of Korra. Nickelodeon. Quyển 1: Khí, Chương 5.
  8. “Resolution of the State Council announced the simplified Chinese characters on the program” (bằng Chinese). China Education and Research Network (27 tháng 5 năm 1994). Truy cập 23 tháng 10 năm 2014.

Xem thêmsửa

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.

Vòng quanh Wikia

Wikia ngẫu nhiên