Fandom

Avatar Wiki

Jing

99bài viết
trên wikia này
Add New Page
Thảo luận0 Share
25px-Featured.png 25px-CPrince_Headpiece_Good.png
Jing.png

Chuột Nang áp dụng jing tích cực trong trận đấu đối lập với Toph sử dụng jing trung lập.

Jing (Hán tự: , Kính) là một thuật ngữ mô tả vô số những lựa chọn mà dựa vào đó người ta có thể điều hướng năng lượng của bản thân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Theo Bumi, chúng tương ứng với chiến thuật và chiến lược trong trận chiến.[1]

Phân loại sửa

Theo Bumi, dựa trên lý thuyết, có ít nhất tám mươi lăm loại hoặc "cấp độ" jing khác nhau, mặc dù chỉ có ba loại chính được đề cập đến:

  • Jing tích cực (Hán tự: 陽勁, dương kính), tương ứng với tiến tới hay tấn công.
  • Jing tiêu cực (Hán tự: 陰勁, âm kính), tương ứng với rút lui hoặc trốn tránh.
  • Jing trung lập (Hán tự: 中勁, trung kính), tương ứng với chờ đợi và lắng nghe, mà theo Bumi mô tả là "không làm gì cả".[1]

Jing tích cực sửa

Octopus form.png

Bạch tuộc hình thù là một trong nhiều chiêu thức thủy thuật cho phép các thủy nhân cân bằng giữa jing tích cực và jing tiêu cực.

Jing tích cực là một biểu hiện tích cực của chi. Và vì thế, nó làm các chiến thuật tích cực của những hỏa nhân được hoàn thiện hơn trong chiến đấu. Các hỏa nhân thường thích hành động hơn là đứng yên hoặc né tránh, phụ thuộc rất nhiều trong những đòn tấn công phủ đầu để áp đảo đối thủ với sức mạnh tuyệt đối. Những thuộc tính jing tích cực này cũng được thể hiện trong thái độ và tính cách phổ biến của người dân Hỏa Quốc.

Jing tiêu cực sửa

Jing tiêu cực chủ yếu được thực hành trong khí thuật, phản ảnh lối sống thanh bình của người dân Khí Tộc và triết lý mọi sinh mệnh đều thiêng liêng. Họ khẳng định rằng chiến đấu chỉ được sử dụng như một hạ sách cuối cùng khi cuộc xung đột không thể tránh khỏi.[2] Những khí nhân là những đấu sĩ lưu động nhất đối lập với các thổ nhân và sở hữu một phong cách chiến đấu rất năng động. "Lẩn trốn và né tránh" được công nhận là chiến thuật điển hình của các khí nhân.[3]

Trong trường hợp thủy thuật, sự vận động tập trung vào ví dụ "đẩy và kéo" giữa mặt trăngbiển cả.[4] Chính vì vậy, các thủy nhân luôn trong trạng thái luân phiên và duy trì sự cân bằng giữa jing tích cực và tiêu cực trong trận chiến, cho phép họ biến phòng thủ thành tấn công qua việc họ dùng sức mạnh của chính đối phương để tự chống lại họ và bảo toàn chính mình.

Jing trung lập sửa

Toph's vision.png

Giác quan địa chấn là một kỹ năng chuyên dụng của thổ thuật sử dụng khái niệm liên quan đến jing trung lập.

Jing trung lập được ghi nhận là chìa khóa của thổ thuật. Về cơ bản, jing trung lập liên quan đến sự lắng nghe, mặc dù dường như không làm gì cả, và chờ đợi thời cơ thích hợp để phản công. Trong chiến đấu, các thổ nhân là những đấu sĩ kiên định, thường chờ đợi đối thủ tự đi đến trong khi vẫn giữ vững chỗ đứng và đón lấy những đòn tấn công của đối phương trước khi tung ra đòn quyết định của chính họ. Jing trung lập hình thành nền móng cơ sở của thổ thuật đích thực, và cũng chính là khái niệm được những thổ nhân đầu tiên sử dụng, loài chuột chũi lửng. Ý tưởng này cũng là khái niệm cơ bản của giác quan địa chấn, một phong cách chiến đấu đậm chất được những ngự nhân thực tài sử dụng, và một trong số đó là Toph.[5]

Như đã nhấn mạnh, những ai có thể thuần thục được jing trung lập là những người biết chờ đợi và lắng nghe trước khi tấn công. Bumi đã dựa vào jing trung lập đến mức ông từ chối chạy trốn khỏi Omashu khi Aang đến giải cứu. Mong muốn của ông là chờ đợi thời cơ thích hợp để tấn công đã khiến cho Aang và những binh sĩ nghĩa quân của ông khó hiểu và chấp nhận, mặc dù sau đó vị Thế thần đã chấp thuận với nguyện vọng của Bumi.[1] Nhà vua cuối cùng cũng đã giải thoát mình trong ngày Mặt Trời Đen khi ông nhận ra rằng đây là thời cơ ngàn năm có một để phản công, đúng lúc những kẻ giam cầm ông bất lực khi mất đi khả năng ngự hỏa.[2]

Trích thoại sửa

Thảo luận về khái niệm jing giữa Thế thần Aang và vua Bumi như sau:

"Tớ không thể hiểu. Tại sao cậu lại không chịu giải thoát cho mình? Tại sao cậu lại đầu hàng khi Omashu bị xâm chiếm? Cậu bị sao vậy hả Bumi?"
"Nghe tớ nói này Aang. Có nhiều sự chọn lựa trong chiến đấu, gọi là jing. Nó là lựa chọn để điều hướng năng lượng của bản thân ..."
"Tớ biết! Có jing tích cực khi ta tấn công, và jing tiêu cực khi ta trốn tránh chứ gì!"
"... và jing trung lập khi ta không làm gì cả!"
"Có tới ba jing lận ư?"
"Thiệt ra thì, theo lý thuyết có tới tám mươi lăm cái lận, nhưng chúng ta hãy nói về cái thứ ba nào. Jing trung lập là chìa khóa của thổ thuật. Nó liên quan tới việc lắng nghe và chờ đợi thời cơ để phản công."
"Vậy đó là lý do cậu đầu hàng, có phải thế không?"
"Đúng vậy, và đó là lý do tại sao tớ không thể rời khỏi lúc này."
"Tớ nghĩ rằng tớ phải tìm người khác để dạy tớ thổ thuật thôi."
"Sư phụ của cậu phải là người thuần thục được jing trung lập. Cậu cần phải tìm người biết lắng nghe và chờ đợi trước khi tấn công.
"
AangBumi.[1]

Tam khoa sửa

  • Jing (Hán tự: , Kính) có nghĩa là "sức mạnh" hoặc "năng lượng" trong tiếng Trung. Nó còn được biết đến với các khái niệm Nei Jin 內勁 [nội kính] và Fa Jin 發勁 [phát kính].
  • Kiến thức về jing dường như đã được biết đến rộng rãi hoặc ít nhất đã từng phổ biến trước Chiến tranh Trăm năm, bởi Aang và Bumi dường như hiểu được những khái niệm này rất dễ dàng, trong khi rất nhiều thổ nhân hiện đại tỏ ra không biết hoặc kém hiểu biết về kiến thức jing.
  • Khái niệm jing phản ánh sự lựa chọn mở khác nhau của người trong trận chiến, và cũng tương ứng với tất cả các khía cạnh của cuộc sống của con người chứ không phải chỉ trên chiến trường.
  • Một khái niệm song song với khái niệm jing của chương trình có lẽ là bản năng tự tồn "đánh hay chạy" trong tâm lý học, các loại tính cách nhất định thiên về một hướng để thể hiện tương tự với một jing cụ thể.

Tham khảo sửa

  1. 1,0 1,1 1,2 1,3 "Return to Omashu". Elizabeth Welch Ehasz (biên kịch) & Ethan Spaulding (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 7 tháng 4, 2006. Quyển 2: Thổ, Chương 3.
  2. 2,0 2,1 "Sozin's Comet, Phần 2: The Old Masters". Aaron Ehasz (biên kịch) & Giancarlo Volpe (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 19 tháng 7, 2008. Quyển 3: Hỏa, Chương 19.
  3. "The King of Omashu". John O'Bryan (biên kịch) & Anthony Lioi (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 18 tháng 3, 2005. Quyển 1: Thủy, Chương 5.
  4. "The Siege of the North, Phần 2". Aaron Ehasz (biên kịch) & Dave Filoni (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 2 tháng 12, 2005. Quyển 1: Thủy, Chương 20.
  5. "The Blind Bandit". Michael Dante DiMartino (biên kịch) & Ethan Spaulding (đạo diễn). Avatar: The Last Airbender. Nickelodeon. 5 tháng 5, 2006. Quyển 2: Thổ, Chương 6.

Liên kết ngoài sửa

  • Khái niệm Nei Jin (Nội Kính) và Fa Jin (Phát Kính) tương tự với khái niệm jing.

Ad blocker interference detected!


Wikia is a free-to-use site that makes money from advertising. We have a modified experience for viewers using ad blockers

Wikia is not accessible if you’ve made further modifications. Remove the custom ad blocker rule(s) and the page will load as expected.

Vòng quanh Wikia

Wikia ngẫu nhiên